8 tháng, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước thu về hơn 6.300 tỷ đồng

Tính cả thoái vốn doanh nghiệp nhà nước trong và ngoài doanh mục theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trong 8 tháng đầu năm 2019, nhà nước thu về hơn 6.300 tỷ đồng.
Đến hết 2020, hàng loạt "ông lớn" nhà nước phải cổ phần hóa Nhà nước thu 3,2 nghìn tỷ từ thoái vốn doanh nghiệp trên HNX

Theo Bộ Tài chính, trong 8 tháng đầu năm 2019, Bộ này đã tích cực phối hợp các bộ, ngành và địa phương tập trung rà soát, đánh giá việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Kết quả, đến hết tháng 8/2019, có 9 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa với tổng giá trị doanh nghiệp là 780 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn nhà nước là 670 tỷ đồng; có 12/62 doanh nghiệp thuộc danh mục ban hành theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thực hiện thoái vốn với giá trị 783 tỷ đồng, thu về 1.700 tỷ đồng.

8 thang thoai von doanh nghiep nha nuoc thu ve hon 6300 ty dong
Bộ Xây dựng thoái vốn tại Tổng công ty Viglacera với giá trị sổ sách 690 tỷ đồng, thu về 1.587 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, các tập đoàn, Tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước ngoài danh mục theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg thoái vốn với tổng giá trị 2.432 tỷ đồng, thu về 4.653 tỷ đồng.

Trong những tháng cuối năm 2019, Bộ Tài chính cho biết sẽ rà soát, tổng hợp tình hình quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi cả nước năm 2018 theo Luật số 69/2014/QH13.

Trước đó, theo đánh giá của Bộ Tài chính, việc cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước đang còn chậm so với kế hoạch đề ra. Nguyên nhân theo Bộ Tài chính là do một số bộ, ngành, địa phương, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước còn chưa thực sự nghiêm túc triển khai kế hoạch cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước theo chỉ đạo và chưa chấp hành chế độ báo cáo.

Bên cạnh đó, vai trò, nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu doanh nghiệp, đơn vị còn chưa cao trong việc đổi mới hoạt động của doanh nghiệp, công khai minh bạch, đúng quy định pháp luật, đảm bảo nguyên tắc thị trường, chống lợi ích nhóm trong cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước.

Ngoài ra, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước cần có nhiều thời gian để xử lý vướng mắc về tài chính, đất đai, lao động trong giai đoạn trước cổ phần hóa làm kéo dài thời gian thực hiện cổ phần hóa. Đặc biệt là vấn đề xác lập hồ sơ pháp lý đất đai do địa phương thực hiện chậm, kéo dài thời gian hơn so với quy định dẫn đến các doanh nghiệp phải điều chỉnh tiến độ cổ phần hóa.

Tại Diễn đàn Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước diễn ra sáng 8/8, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng, mục tiêu đầu tiên của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là đảm bảo lợi ích cao nhất cho nhà nước, không gây thất thoát ngân sách.

Bên cạnh đó, việc cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước còn giúp nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, giữ gìn thương hiệu, ngành nghề kinh doanh chính để từ đó tạo điều kiện cho phát triển bền vững của cả nền kinh tế trong dài hạn.

Ông Long cho biết, thời gian qua có nhiều ý kiến cho rằng cứ bán công ty cho nhà đầu tư ngoại là coi như “mất tất” hoặc “mất thương hiệu.” Với ý kiến này, ông Long cho rằng việc đánh giá cái được, cái mất cần phải thực hiện một cách toàn diện.

Theo ông Long, trong quá trình cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, việc lựa chọn nhà đầu tư nội hay ngoại sẽ không thực sự quan trọng bằng việc đánh giá, lựa chọn được nhà đầu tư.

Đặc biệt, ông Long cũng nhấn mạnh rằng, không ít những nhà đầu tư chiến lược Việt khác tham gia mua cổ phần của doanh nghiệp Nhà nước chỉ nhằm mục đích chính là bất động sản và những khu đất vàng hơn là nhằm vào thương hiệu hoặc ngành kinh doanh chính của doanh nghiệp.

Trong khi đó, nói về nguyên nhân chậm cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước, ông Long cho rằng, có thể do nhiều quy định pháp lý chặt chẽ hơn, một số khâu, công đoạn buộc phải kéo dài để tránh thất thoát như việc xác định giá trị doanh nghiệp, xử lý đất đai trước khi cổ phần hóa.

Cũng theo vị chuyên gia này, việc chậm trễ trong cổ phần hóa, thoái vốn dễ dẫn đến tâm lý hoạt động cầm chừng chờ đợi, thậm chí là bất an của chính đội ngũ quản lý và người lao động, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp đã yếu kém sẽ lại càng yếu kém hơn, và nhà nước sẽ càng khó khăn hơn khi thoái vốn.

Hậu Lộc
Xem phiên bản mobile